--%>

TÓM TẮT

     Đô thị cổ Hội An, di sản văn hóa thế giới đang bị đe dọa bởi biến đổi khí hậu (BĐKH) và thiên tai khắc nghiệt. Bài báo chỉ ra những nguy cơ cụ thể từ BĐKH với Hội An thông qua nghiên cứu, đánh giá sự biến đổi của các yếu tố khí hậu từ hai hệ thống kịch bản khác nhau, dự đoán cho khu vực này. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho định hướng bảo tồn di sản Hội An dưới tác động của BĐKH. 

 

Từ khóa: kịch bản, biến đổi khí hậu, di sản văn hóa.

Research of climate change impact on Hội An world cultural heritage

Tran Thao Linh 1,

1Weather and Disaster Broadcast Center, Vietnam Television

Tran Viet Lien2

2Research and consultation climate change, environment center

ABSTRACT

    Hoi An ancient town, a world heritage culture, is being threatened by climate change and natural hazards. This study will point out imminent threats posed by climate change to Hoi An via researching and assessing the fluctuation of climate variables in two distinctive scenario systems. The research result will contribute to providing a scientific base for preserving Hoi An under climate change.

Key wordsClimate Change, scenarios, world cultural heritage. 

 

1. Đặt vấn đề

     Hội An là một thương cảng hình thành từ hơn 5 thế kỷ trước, nằm trên vùng khí hậu khá khắc nghiệt ven biển miền Trung, chịu tác động mạnh của biển với các hiện tượng như bão, tố lốc, nước dâng và sóng dữ… BĐKH toàn cầu đang làm gia tăng nắng nóng, nước dâng, xói lở vùng bờ, và các thiên tai như bão mạnh, lũ lụt lớn... Điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến độ bền công trình, hoạt động đô thị, sức khỏe cộng đồng… cũng tức là đến đời sống, chất lượng di sản. Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của BĐKH tới các di sản thiên nhiên và văn hóa, nhất là trong các hội thảo chuyên đề do UNESCO và UNEP tổ chức [14]. Một số nghiên cứu chính của Trung tâm Di sản của UNESCO (2009) đã đề cập đến tác động của BĐKH đối với nhiều dạng khác nhau của di sản tự nhiên, văn hóa thế giới. Tác động của BĐKH đến các di sản rất đa dạng, có những tác động chậm dưới dạng hoá học, sinh học, vật lý…[14] nhưng cũng có những tác động mạnh của thiên tai như bão, lũ lụt, xói lở [9, 11]. Từ phân tích những tác động này, các nhà khoa học đã nêu ra các giải pháp thích ứng [10, 13]. Những nghiên cứu, đánh giá về tác động của BĐKH đến di sản bước đầu được đề cập đến ở Việt Nam [3, 8, 7]. Để có được những đánh giá xác đáng về tác động của BĐKH, cần có những dự đoán hoặc kịch bản BĐKH trong tương lai của khu vực nghiên cứu. Bài báo này sẽ phân tích diễn biến của các yếu tố khí hậu diễn ra trong quá khứ và tương lai tại Hội An, phục vụ hiệu quả hơn cho xây dựng các giải pháp thích ứng và bảo tồn di sản.

2. Số liệu và phương pháp nghiên cứu

2.1. Số liệu và dữ liệu sử dụng

     Cùng với nguồn số liệu quan trắc từ trạm Khí tượng Đà Nẵng, Tam Kỳ các dữ liệu liên quan đến khí hậu, thiên tai ảnh hưởng đến Hội An được lấy từ các tài liệu đã công bố [1,2,3,4,12]. Các số liệu, tài liệu về BĐKH khu vực Quảng Nam được lấy từ "Kịch bản BĐKH và nước biển dâng Việt Nam" do Bộ TN&MT công bố năm 2016. Các kết quả tính cho Hội An từ Mô hình khí hậu của Viện khí tượng Hà Lan được WMO giới thiệu và khuyến cáo sử dụng cũng là cơ sở cho những phân tích đánh giá của bài báo này [12].

2.2. Phương pháp nghiên cứu

     ''Địa phương hóa" (downscaling) là phương pháp chủ đạo được dùng để chuyển các kịch bản từ toàn cầu về các khu vực nhỏ nói chung, Hội An nói riêng. Phương pháp này bao gồm cả động lực (dynamic downscaling) và thống kê (statistical downscaling) được dùng trong xây dựng kịch bản BĐKH của Việt Nam và các tỉnh cũng như trong mô hình "Atlas Climate change" của KNMI khi xây dựng kịch bản BĐKH cho Hội An. Để phân tích đặc điểm, diễn biến khí hậu, phương pháp thống kê với minh hoạ bằng các đồ thị và bản đồ đã được sử dụng. Khung kịch bản phát thải khí nhà kính dùng trong nghiên cứu này là RCP được IPCC công bố trong lần đánh giá BĐKH toàn cầu lần thứ 5 (AR5), trong đó mức phát thải trung bình RCP4.5 và phát thải cao RCP8.5 được sử dụng chính. Khu vực Quảng Nam trong công bố của Bộ TN&MT năm 2016 [1] được sử dụng để phân tích và dự đoán diễn biến khí hậu Hội An thế kỷ 21. Việc tính các đặc trưng khí hậu cho thế kỷ 21 theo các kịch bản phát thải dựa vào mô hình do KNMI phát triển đã sử dụng 2 cách tính: i) cho điểm đại diện (place) và ii) cho khu vực bao trùm (box). Với Hội An, điểm đại diện có toạ độ (15.35oN - 108.2oE) và khu vực bao trùm là (15.15 - 15.5oN/108.17-108.23oE). Kết quả tính từ phương pháp của KNMI đã được đối chiếu với kết quả của Bộ TN&MT (2016).

3. Xây dựng kịch bản BĐKH cho thế kỷ 21 đối với TP. Hội An

     BĐKH đã dẫn đến diễn biến dị thường của thời tiết trên khu vực trong những thập kỷ gần đây. Tăng lên là xu thế phổ biến của các đặc trưng nhiệt độ từ trung bình năm (tbn) tới cực trị. Tốc độ tăng phổ biến ở mức 0,01 - 0,030C/thập kỷ, trong đó, nhiệt độ mùa đông thường có tốc độ tăng cao hơn. Nhiệt độ tăng là cơ sở tăng lên của các đặc trưng khác có liên quan như số ngày nóng (ngày có Tmax ≥ 350C), độ dài mùa nóng, thời gian khô hạn.

     Diễn biến của lượng mưa khá phức tạp. Tại Hội An, lượng mưa năm trong khoảng nửa thế kỷ gần đây cũng có xu thế tăng. Đặc biệt các chuỗi cường độ mưa, lượng mưa 1 ngày lớn nhất cũng có xu hướng tăng (Rmax1day), chứng tỏ mưa ngày càng mạnh hơn dẫn đến úng ngập ở các đô thị tăng lên như đã nêu.

     Diễn biến của các hiện tượng cực đoan thường được quan tâm nhiều hơn, trong đó bão là đặc trưng quan trọng. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, BĐKH không làm tăng tần số xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) nhưng các cơn bão lớn với nhiều đặc tính khác thường đã xảy ra nhiều hơn, nhất là các siêu bão. Tố lốc tuy phạm vi hoạt động nhỏ hơn nhưng tốc độ gió thường khá lớn, có thể đạt tới cấp 11, 12 và hiện tượng này cũng đang có xu thế tăng thêm do tác động của BĐKH. Diễn biến của mực nước biển trên vùng ven biển nước ta trong mấy thập kỷ gần đây cũng cho thấy  mức tăng đáng kể. Khu vực Trung Trung bộ, trong đó có vùng biển Hội An đã tăng trung bình khoảng 2.9 mm/năm.

3.1. Kịch bản biến đổi của lượng bức xạ mặt trời

     Kịch bản về bức xạ mặt trời (BXMT) chưa được Bộ TN&MT xem xét. Theo KNMI dự đoán, BXMT nhận được ở Hội An có xu hướng tăng thêm với tất cả các kịch bản phát thải. Tới cuối thế kỷ, mức tăng trung bình so với thời kỳ cơ sở là 1,9%, cao nhất 10% ứng với kịch bản RCP4.5; trung bình 1,2% và cao nhất 9,9% với kịch bản RCP8.5 (Hình 1). Tình hình này khẳng định thêm khả năng tăng nhiệt độ lớp bề mặt, cũng như các dạng thời tiết nắng nóng hàng năm trên TP.

 

 

3.2. Kịch bản biến đổi về nhiệt độ

     Theo Bộ TN&MT (2016), nhiệt độ cả nước tiếp tục tăng lên ở tất cả các kịch bản phát thải. Với khu vực tỉnh Quảng Nam, trong đó có TP. Hội An, nhiệt độ trung bình năm tăng tối đa tới 2,6oC vào cuối thế kỷ theo kịch bản phát thải trung bình RCP4.5, và 4,2oC với kịch bản phát thải cao RCP8.5 [1]. Mức biến đổi của Ttb cũng không giống nhau giữa các mùa, mùa hè cho mức tăng cao nhất có thể lên tới 5oC vào cuối thế kỷ với kịch bản phát thải cao RCP8.5 (Bảng 1).

 

Bảng 1. Biến đổi Ttb các mùa so với thời kỳ cơ sở 1980 - 2005 của tỉnh Quảng Nam (giá trị trong ngoặc đơn là khoảng biến đổi quanh giá trị trung bình với cận dưới 10%, cận trên 90%) [1]

 

Kịch bản RCP 4.5

Kịch bản RCP 8.5

Giai đoạn

2016 - 2035

2046 - 2065

2080 - 2099

2016 - 2035

2046 - 2065

2080 - 2099

Đông

0,7 (0,4 ÷ 1,2)

1,2 (0,8 ÷ 1,7)

1,5 (1 ÷ 1,9)

0,8 (0,5 ÷ 1,1)

1,7 (1,3 ÷ 2,1)

2,8 (2,3 ÷ 3,4)

Xuân

0,7 (0,3 ÷ 1,2)

1,3 (0,8 ÷ 1,9)

1,9 (1,2 ÷ 2,7)

0,8 (0,5 ÷ 1,2)

1,8 (1,1 ÷ 2,6)

3,2 (2,3 ÷ 4,1)

0,7 (0,4 ÷ 1,3)

1,6 (1 ÷ 2,5)

2,2 (1,5 ÷ 3,1)

0,8 (0,5 ÷ 1,3)

2,1 (1,4 ÷ 3,0)

3,6 (2,9 ÷ 5,0)

Thu

0,7 (0,4 ÷ 1,2)

1,4 (0,9 ÷ 2,1)

1,9 (1,2 ÷ 2,7)

0,8 (0,5 ÷ 1,2)

1,9 (1,2 ÷ 2,8)

3,3 (2,6 ÷ 4,4)

 
 
Hình 2. Diễn biến của Ttbn TP.Hội An với 4 kịch bản (KNMI)

 

     Theo KNMI, Ttbn sẽ tăng khoảng 1,9oC (1,2 - 3,5oC) vào giữa thế kỷ và 3,6oC (2,3 - 5,4oC) vào cuối thế kỷ với kịch bản RCP8.5. Còn ở kịch bản RCP4.5, mức tăng chỉ khoảng 1,1oC (0,8 - 2,5oC) vào giữa thế kỷ; 2,2oC (1,6 - 3,4oC) vào cuối thế kỷ (hình 2) cao hơn không đáng kể so với cả tỉnh Quảng Nam [1]. Với nhiệt độ tối cao trung bình năm (Txtbn) và tối thấp trung bình năm (Tmtbn), Bộ TN&MT (2016) chỉ nêu ra mức tăng cho cho cả nước, không chi tiết cho các tỉnh. Đối với cực trị tuyệt đối, trong tài liệu trên không xét.

     Còn theo KNMI, tới cuối thế kỷ nhiệt độ tối cao (Tx) của  Hội An tăng trung bình là 1,7oC cao nhất tới 2,6oC với RCP4.5 và trung bình 3,4oC cao nhất tới 5,0 oC với kịch bản phát thải RCP8.5. Tương tự, nhiệt độ tối thấp (Tm) sẽ tăng trung bình 1,7oC cao nhất 2,7oC với RCP4.5 và trung bình 3,3oC cao nhất 4,8oC với RCP8.5 (hình 3).

 

 

     Sự tăng nền cũng như các cực trị nhiệt dẫn đến mùa nóng kéo dài hơn đồng thời số ngày nắng nóng cũng gia tăng. Theo Bộ TN&MT (2016), số ngày nóng (ngày có Tmax ≥ 35oC) trên khu vực này có thể tăng thêm 40 ngày vào giữa thế kỷ và 50 ngày ở cuối thế kỷ so với thời kỳ cơ sở theo RCP4.5, với RCP8.5 vào cuối thế kỷ, con số này có thể lên trên 100 ngày. Điều đó cho thấy thời tiết nóng sẽ tăng lên với những đợt nóng kéo dài và khốc liệt hơn, đặc biệt trong những năm El Nino.

3.3. Kịch bản biến đổi về mưa ẩm

     Theo Bộ TN&MT (2016), lượng mưa năm ở Quảng Nam có xu thế tăng theo cả hai kịch bản RCP4.5 và RCP8.5 ở cả 3 giai đoạn ở thế kỷ 21. Cụ thể, cuối thế kỷ lượng mưa năm tăng 25,9% và 29,9% ứng với kịch bản RCP8.5 và RCP4.5 [1]. Xét theo từng mùa trong năm, lượng mưa tăng mạnh vào thời kì mùa thu 35% và 36,6%, giảm vào thời kỳ mùa hè 5,2% và 4,2% vào cuối thế kỷ, ứng với các kịch bản RCP 8.5 và RCP 4.5 (Bảng 2).  

 

Bảng 2. Biến đổi Rtb các mùa so với thời kỳ cơ sở 1980-2005 tại Quảng Nam (%) (giá trị trong ngoặc đơn là khoảng biến đổi quanh giá trị trung bình với cận dưới 10%, cận trên 90%. [1]

 

Kịch bản RCP 4.5

Kịch bản RCP 8.5

Giai đoạn

2016 - 2035

2046 - 2065

2080 - 2099

2016 - 2035

2046 - 2065

2080 - 2099

Đông

5,9 (-1,8 ÷13,4)

14,4 (-0,9÷30)

53 (21,3÷83,3)

6,1 (-4,7÷16,3)

15,7 (-4,9÷37,9)

31 (-7,9÷70,4)

Xuân

0,2 (-10,4÷10,4)

-1,9 (-17.7÷12,6)

13,5 (-8,9÷35,1)

- 7,6 (-15,3÷-0,1)

-6 (-18,7÷5,7)

11,2 (-11,4÷31,3)

-1,9 (-11,8÷7.5 )

0,2 (-12÷12,1)

-4,2 (-14,8÷5,8)

24,4 (3,2÷43)

15,2 (-5,9÷33,5)

-5,2 (-18,2÷7,4)

Thu

28,9 (21,1 ÷36,7)

37,4 (24÷51,6)

36,6 (24,6÷49,6)

22,7 (16,2÷29,3)

35 (26,1÷43,6)

35 (20,1÷49,7)

 
 
     Tuy nhiên, theo kết quả tính cho riêng Hội An từ KNMI, lượng mưa năm của TP cũng tăng trong cả hai kịch bản phát thải đã nêu, nhưng mức độ tăng thấp hơn, trung bình chỉ 6%, tối đa 20% với kịch bản phát thải RCP4.5 và trung bình 8%, tối đa 35% với kịch bản phát thải RCP8.5 (Hình 4).  
 
 
Hình 4. Diễn biến mức thay đổi tương đối (%) của Rtbn (bên trên) của  Rx1day (bên dưới) tại TP.Hội An
 

    Đối với mưa, điều cần quan tâm là các đặc trưng về cường độ mưa, kết quả của Bộ TN&MT (2016) cho thấy, cường độ mưa 1 ngày và 5 ngày lớn nhất trung bình  (Rx1day và Rx5day) trên khu vực Quảng Nam có xu hướng tăng với cả hai kịch bản. Vào cuối thế kỷ Rx1day có thể tăng 60 - 70% với kịch bản RCP4.5 và 70 - 80% với kịch bản RCP8.5; Rx5day tăng thấp hơn, với 2 số tương ứng là 40 - 50% và 50 - 60% [1]. Kết quả tính riêng cho Hội An của KNMI cũng cho xu thế tăng đối với cả 2 đặc trưng Rx1day và Rx5day. Tới cuối thế kỷ 21, kịch bản RCP4.5 cho mức tăng cao nhất của Rx1day khoảng 49%, còn RCP8.5 là 112% (Hình 4). Với Rx5day mức tăng tương ứng là 62% và 75%. Như vậy, xu hướng trong tương lai tần suất các trận mưa lớn cực đoan sẽ tăng lên, mưa kéo dài nhiều ngày có thể dẫn tới gia tăng những đợt ngập úng nghiêm trọng.

3.4. Kịch bản về nước biển dâng

     Mực nước biển tiếp tục dâng cao thêm trong thế kỷ 21 (IPCC, 2013). Trên Biển Đông và vùng ven biển Việt Nam, mực nước tăng song không đồng đều. Theo Bộ TN&MT (2016), mực nước biển dâng trên vùng biển Việt Nam được phân thành 9 khu vực. TP. Hội An nằm trong khu vực ven biển từ đèo Hải Vân đến mũi Đại Lãnh với mực nước trung bình đến cuối thế kỷ 21 có thể dâng thêm 54 cm đến 73 cm ứng với các kịch bản RPC4.5 và RCP8.5. Mức nước biển dâng cao nhất có thể xảy ra ở Hội An vào cuối thế kỷ lên tới 103 cm (Bảng 3). Mực nước dâng thực tế còn phụ thuộc vào thuỷ triều và nước dâng trong bão. Trong công trình phân vùng bão do Bộ TN&MT công bố (2016), mực nước dâng tổng hợp do bão trên khu vực Hội An có thể đạt tới 320 cm [2].

 

Bảng 3. Kịch bản nước biển dâng cho khu vực ven biển từ đèo Hải Vân đến Mũi Đại Lãnh [1]

Khu vực

Các mốc thời gian của thế kỷ 21

2030

2040

2050

2060

2070

2080

2090

2100

Kịch bản RCP4.5

13 (8-18)

17 (11-25)

23 (14-32)

28 (17-40)

34 (21-48)

40 (25-57)

47 (29-66)

54 (33-76)

Kịch bản RCP8.5

13 (8-18)

16 (13-26)

25 (17-35)

33 (22-46)

41 (28-58)

51 (35-71)

62 (42-86)

73 (50-103)

 

3.5. Kịch bản đối với các hiện tượng khí hậu cực đoan khác

3.5.1. Hoạt động của xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) 

     Theo đánh giá của IPCC (AR5), dưới tác động của BĐKH, tần số XTNĐ tại Tây Bắc Thái Bình Dương không tăng nhưng cường độ có xu hướng tăng, tức là khả năng gia tăng các cơn bão mạnh, thậm chí siêu bão; gió và mưa trong bão cũng sẽ tăng lên. Đối với Việt Nam, số lượng XTNĐ ít biến đổi nhưng phân bố tập trung hơn vào cuối mùa bão, là thời kỳ bão hoạt động chủ yếu ở phía Nam [1]. Xu hướng bão mạnh đến rất mạnh gia tăng, cho thấy, Hội An có thể phải hứng chịu nhiều bão mạnh hơn. Với chu kì lặp 100 năm, tốc độ gió giật do bão tại Hội An có thể đạt trên cấp 16 (Hình 5), cường độ bão trên biển Đông tới cuối thế kỷ 21 có thể tăng khoảng 7%, cao nhất tới 14% [4]. Theo Bộ TN&MT (2016), tốc độ gió mạnh do bão ở vùng ven biển Đà Nẵng - Bình Định (bao gồm Hội An) có thể đạt cấp 14-15, giật cũng trên cấp 16. Mưa do bão cũng tăng lên, Rx1day có thể đạt từ 650 - 700 mm [2].

3.5.2. Hạn hán

     Hạn hán thường là do những đợt không mưa kéo dài kết hợp với nắng nóng gây thiếu nước nghiêm trọng không chỉ với sản xuất mà đời sống các khu dân cư. Hạn hán đối với khu vực Nam Trung bộ có thể trở nên khắc nghiệt hơn nhất là vào mùa xuân, hè. Những đợt khô hạn tính theo KNMI cho Hội An cũng đều cho xu thế tăng, tối đa tới 29% và 37% vào cuối thế kỷ tương ứng với 2 kịch bản RCP4.5 và RCP8.5.

4. Những tác động cần lưu ý của BĐKH đối với di sản Hội An

4.1. Lũ lụt tác động đến công trình cổ và đời sống người dân TP

    Đối với Hội An, lũ lụt là mối đe dọa lớn nhất. Trong kịch bản xấu nhất, Hội An có thể hứng chịu nhiều yếu tố cùng lúc như triều cường cao, siêu bão, không khí lạnh, dải hội tụ nhiệt đới, nhiễu động gió đông, lũ thượng nguồn…Với mực nước biển dâng tối đa trên 1 mét, mực nước dâng do bão và triều cường tới 3,5 mét, tổng cộng có thể trên 4,5 mét. Do nền đất khá thấp, chỉ cao hơn mực nước biển 1m25, khối nước cao 3 - 4 m từ phía biển dồn sâu vào phố cổ sẽ nhấn chìm các tuyến phố. Nếu kết hợp thêm mưa lớn, lũ đầu nguồn sẽ gây ngập úng trầm trọng, kéo dài hơn. Hội An đã từng ngập sâu 3,5 m nên tương lai, dưới tác động của BĐKH, mức ngập có thể tăng thêm từ 3,5 - 4,5 m. Với địa hình cao dần từ Nam lên Bắc, phố Bạch Đằng ven sông Hoài là nơi ngập sâu nhất. Các tuyến đường sâu hơn bên trong như Trần Phú, có thể bị ngập trên 3,5 mét. Thời gian lũ lớn kéo dài có thể tới 2 tuần, sẽ làm hư hại nghiêm trọng các công trình cổ với vật liệu bằng gỗ. Khoảng 70 ngôi nhà cổ, tức 10% số nhà cổ của Hội An đã xuống cấp, có thể sẽ bị sụp đổ do lũ lớn [6]. Lũ lụt cũng gây nhiều tai hoạ khác cho đời sống cộng đồng, phát sinh dịch bệnh.

4.2. Nước biển dâng gây ngập úng, xói lở bờ biển

     Nếu mực nước dâng tới 1,03 mét, nước biển lấn sâu hơn vào phía trong, tăng thêm vùng đất bị ngập, bãi tắm thay đổi. Nước biển dâng cùng sự thay đổi của chế độ sóng, gió và dòng chảy sẽ gây áp lực lên kết cấu đất vùng bờ biển. Thêm vào đó, hoạt động khai thác nước ngầm quá mức, đặc biệt là khai thác cát trái phép, cùng tác động của các đập thủy điện ở thượng nguồn làm suy kiệt lượng phù sa vùng hạ lưu hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn khiến kết cấu đất bị yếu đi và dễ bị tổn thương hơn trước sóng biển. Hệ quả là tình trạng xói lở bờ biển tại bãi biển Cửa Đại của Hội An ngày càng nghiêm trọng hơn, gây hệ lụy cho du lịch và phát triển kinh tế theo hướng biển.

4.3. Tác động của gió bão đối với Hội An

     Các ngôi nhà ở Hội An được lợp mái âm dương, tăng khả năng chống chọi với gió mạnh, gió lốc trong bão khác [6]. Tuy nhiên, sự xuất hiện của những siêu bão với gió giật trên cấp 16 như đã nêu, áp lực gió sẽ rất lớn, các ngôi nhà khó sẽ có khả năng chống đỡ. Với đặc điểm của các ngôi nhà cổ ở Hội An xếp san sát nhau, mái liền mái, một khi gió bão làm đổ một ngôi nhà, sẽ tạo ra hiệu ứng Domino, nguy cơ gây đổ hoàng loạt ngôi nhà.

4.4. Tác động từ những đợt khô hạn

     Do tác động của BĐKH, các đợt nắng nóng, khô hạn sẽ xuất hiện ngày càng nhiều hơn và kéo dài hơn. Với Hội An, mùa nóng là thời kỳ hạn hán dễ xuất hiện. Hạn hán có nguồn gốc từ hoạt động của thời tiết khô nóng sẽ trở nên khắc nghiệt, xảy ra kéo dài đặc biệt trong những năm Elnino, dễ dẫn đến thiếu nước trong sản xuất và sinh hoạt, và là điều kiện để hỏa hoạn xảy ra nhất là trong khu phố cổ, các công trình chủ yếu làm bằng gỗ.

4.5. Các yếu tố BĐKH khác tác động tới Hội An

     Cùng với mực nước biển dâng cao hơn, hiện tượng “nóng lên toàn cầu” còn dẫn đến nhiều thay đổi khác của đại dương mà con người chưa phát hiện hết. Sự nóng lên của lớp nước bề mặt cùng với sự tăng lên của CO2 và một số khí khác đã làm tăng quá trình axít hóa nước biển, làm tăng thêm độ mặn. Thay đổi về đặc tính hóa học của nước biển có thể dẫn đến những thay đổi hóa học khí quyển tầng thấp, cũng như đặc tính môi trường không khí vùng ven biển như độ mặn, các acid, các muối làm gia tăng tốc độ và mức độ ăn mòn, gây tổn hại cho các công trình cổ ở Hội An. Chưa kể nhiệt tăng cao sẽ kéo theo tải trọng nhiệt gia tăng, làm tăng quá trình suy thoái vật liệu... Độ ẩm cao hơn sẽ tạo điều kiện mối mọt sinh sản, đục khoét kèo gỗ, khiến việc hư hại càng diễn ra nhanh và mạnh hơn.

5. Kết luận

     Trên cơ sở vận dụng kịch bản BĐKH của Bộ TN&MT công bố năm 2016 cho khu vực tỉnh Quảng Nam, kết hợp với tính toán độc lập các đặc trưng khí hậu cho thế kỷ 21 tại Hội An dựa vào Mô hình khí hậu của Viện Khí tượng Hà Lan, bài báo đã xây dựng kịch bản BĐKH cho di sản văn hóa thế giới Hội An. Kết quả tương đồng về biến thiên của các yếu tố khí hậu trong tương lai giữa hai hệ thống kịch bản được đối chiếu, cho thấy kịch bản BĐKH đưa ra là đáng tin cậy. Những mối đe dọa cụ thể mà BĐKH có thể gây ra vào cuối thế kỷ cho các công trình cổ và người dân tại Hội An đã được chỉ rõ. Những tác động nhanh, mạnh bao gồm sự gia tăng của gió mạnh, mưa lớn từ các trận siêu bão và tình trạng ngập lụt sâu do lũ sẽ phá hủy các ngôi nhà cổ, hạn hán kéo theo nguy cơ hỏa hoạn, thiếu nước sinh hoạt, nước biển dâng gây xói lở trầm trọng hơn. Và tác động chậm là sự tăng lên của nhiệt, ẩm, độ muối làm tăng tốc độ ăn mòn, gây hư hại cho di tích… Những nghiên cứu trên sẽ là cơ sở, góp phần tạo ra những giải pháp bảo tồn hữu hiệu hơn nhằm duy trì lâu dài di sản Hội An cho các thế hệ mai sau.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ TN&MT, 2016, “Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam”. NXB TN&MT và bản đồ Việt Nam.

2. Bộ TN&MT, 2016, “Cập nhật phân vùng bão, xác định nguy cơ bão, nước dâng do bão, phân vùng gió cho các vùng sâu trong đất liền khi bão mạnh, siêu bão đổ bộ”.

3. Nguyễn Quốc Hùng, 2007, "Tác động của thay đổi khí hậu đối với di sản văn hóa và thiên nhiên - những vấn đề đặt ra". Tạp chí Di sản văn hóa số 21.

4. Trần Việt Liễn, 2016, "Xoáy thuận nhiệt đới khu vực Tây bắc TBD và ảnh hưởng của gió bão tới công trình xây dựng ở Việt Nam". Hội Môi trường Xây dựng Việt Nam.

5. Trần Việt Liễn, 2015. Kịch bản BĐKH TP. Hội An. Trung tâm nghiên cứu, tư vấn BĐKH và môi trường. Tài liệu đánh máy.

6. Trần Thảo Linh và các đồng tác giả, 2015, “Tác động của BĐKH tới di sản văn hóa Hội An”. Kịch bản phim tài liệu. TT TH Thời tiết & Cảnh báo thiên tai, VTV.

 

 

 

7. Phạm Thúy Loan và Nguyễn Phương Nga, 2016, "Di sản đô thị và BĐKH". Tạp chí Kiến trúc số 10-2016.

8. Lý Thị Thanh Thủy, 2012, “Nghiên cứu tác động và đề xuất một số giải pháp thích ứng với BĐKH cho TP. Hội An - tỉnh Quảng Nam”. Đại học Đà Nẵng.

9. Allen Consulting Group, 2005, "Climate Change Risk and Vulnerability. Promoting an efficient adaptation response in Australia". Australian Greenhouse Office, Department of the Environment and Heritage.

10. Michelle L. Berenfeld, 2008, "Climate Change and Cultural Heritage: Local Evidence, Global Responses". Climate Change and Cultural Heritage, Volume 25• Number 2

11. Kelly, B., and Stack, M, 2009, "Climate Change, Heritage and Tourism: Implications for Ireland’s Coast and Inland Waterways". Heritage Council and Fáilte Ireland.

12. Koninklijk Nederlands Meteorologisch Instituut, "KNMI Climate Change Atlas. KNMI Climate Explorer". http://climexp.knmi.nl/plot_atlas_form.py.

13. Jim Perry and Charlie Falzon, 2014, "Climate Change Adaptation for Natural World Heritage Sites. A Practical Guide". UNESCO

14. UNESCO, 2007, "Climate Change and World Heritage. Report on predicting and managing the impacts of climate change on World Heritage and Strategy to assist States Parties to implement appropriate management responses". World Heritage. Report 22.  

 

Trần Thảo Linh1

Trần Việt Liễn2

(1) Trung tâm Truyền hình Thời tiết và Cảnh báo thiên tai, Đài Truyền hình Việt Nam

(2) Trung tâm nghiên cứu và Tư vấn BĐKH và môi trường

(Tạp chí Môi trường số chuyên đề III năm 2017)

 

Thống kê

Lượt truy cập: 5549647